![]() |
Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước, mà còn là cơ hội để suy ngẫm về hành trình đổi thay của nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, lạc hậu sang một ngành kinh tế mũi nhọn với kim ngạch xuất khẩu tỷ đô. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, doanh nhân Nguyễn Thị Thành Thực, người có hơn 30 năm kinh doanh nông sản và 50 năm gắn bó với ruộng đồng đã chia sẻ ký ức, trải nghiệm và khát vọng đưa nông sản Việt vươn tầm thế giới.
Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 là dịp để nhìn lại hành trình phát triển của đất nước. Ở góc nhìn của bà, ngành nông nghiệp Việt Nam đã thay đổi thế nào so với thời điểm bà mới bắt đầu bước chân vào lĩnh vực này?
Tôi bước chân vào lĩnh vực kinh doanh nông sản tới nay là 30 năm. Tuy nhiên sinh ra trong gia đình ở nông thôn, khi còn nhỏ cũng tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp nên cũng phải nói là 50 năm rồi.
Ký ức tuổi thơ trước 1975 là nông nghiệp nhỏ trong chiến tranh đi cùng nghèo đói. Chúng tôi được dạy làm phân xanh, ủ phân gia súc gia cầm, lấy lá non quả xoan băm rồi vùi xuống ruộng (sau này mới hiểu là xử lý tuyến trùng). Vừa thu hoạch lúa vụ xuân xong thì cày úp luống để trồng đậu tương, có khi thu hoạch đậu, có khi lại cày úp cả cây lẫn trái non xuống làm phân...
Ký ức thập kỷ 90 của thế kỷ trước là sự chuyển mình, mở cửa thông thương sau cấm vận, giao thương biên mậu với Trung quốc vẫn là chủ yếu. Hàng hóa chưa đa dạng, phong phú như bây giờ, hoa quả chủ yếu nhập từ Trung Quốc, bán sang họ được vài tấn vải thiều hay nhãn mỗi ngày chỉ là giao thương biên giới. Nhưng từ khoảng 20 năm trở lại đây nông sản của Việt Nam đã vượt trội cả về sản lượng, chất lượng và có nhiều ngành hàng tỷ đô (ví dụ như gạo, cà phê, cá tra, sầu riêng, tôm,...). Và thị trường không chỉ còn là Trung Quốc, chúng ta đã xuất khẩu đến rất nhiều thị trường khác như Mỹ, châu Âu...
Từ trải nghiệm cá nhân, đâu là giá trị cốt lõi nhất của người Việt mà bà tin đã giúp nông nghiệp nước nhà bền bỉ vươn lên trong bối cảnh hội nhập quốc tế?
Từ trải nghiệm cá nhân, tôi cho rằng giá trị cốt lõi nhất của người Việt là “chăm chỉ - sáng tạo - ham học hỏi” là những tố chất giúp cho nông nghiệp nước nhà vươn lên trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Minh chứng bằng những vùng cà phê xưa kia chỉ có ở Tây Nguyên, nhưng ngày nay Tây Bắc cũng dần là vùng cà phê trọng điểm. Sầu riêng thập kỷ trước vẫn chủ yếu ở miền Tây nay thủ phủ lại là Tây Nguyên.
Những nông dân chăm chút đếm từng ngày, thức đêm thụ phấn cho cây, nâng niu chăm sóc từng gia súc để mong được thành quả tốt đẹp. Có những nông dân học không hết cấp 2 nhưng đầu tư cả giàn máy công nghệ từ máy bay không người lái tới máy cày, máy gặt đập liên hợp.
Câu chuyện người nông dân Phạm Văn Hát chưa học hết lớp 7, đi làm thuê ở Israel trở về đã thiết kế ra những chiếc máy nông nghiệp xuất khẩu tới hàng chục nước trên thế giới trong đó có cả cường quốc công nghệ nông nghiệp như Đức khiến nhiều người phải nể phục.
Bà từng nhiều lần nhấn mạnh về “khát vọng làm chủ ở nước ngoài” của người Việt trong lĩnh vực nông nghiệp. Cụ thể, hình ảnh mà bà mong muốn nhìn thấy ở 10-20 năm tới là gì?
Tôi đi nhiều nước, nhìn thấy nhiều cơ hội cho người Việt có thể làm chủ trong nông nghiệp. Ví dụ như Hàn Quốc, Nhật Bản,... có rất nhiều ngôi làng hoang vắng trong khi ngay thị trường họ lại nhập khẩu rất nhiều nông sản, thực phẩm, nhà nước có rất nhiều ưu đãi cho nông nghiệp. Ở Hàn Quốc hay Nhật Bản quy mô nông nghiệp nhỏ, tinh tế khá phù hợp với người Việt.
Việt Nam đang còn thế hệ trẻ lớn lên ở nông thôn khát vọng làm giàu, sẵn sàng bôn ba, đam mê với nông nghiệp. Có hàng chục ngàn cô dâu Việt lấy chồng Hàn Quốc hoàn toàn có thể làm chủ những farm thực phẩm. Có rất nhiều nhà đầu tư Việt mua trang trại ở Úc, Canada, Mỹ... để làm nông nghiệp.
Đầu ra của nông nghiệp lớn nhất là thực phẩm. Ẩm thực Việt Nam đã có tên tuổi trên bản đồ ẩm thực thế giới. Phở và cà phê là những những món ăn và thức uống khiến thế giới biết đến Việt Nam. Tuy nhiên số người Việt làm chủ nhà hàng, cung cấp ẩm thực ở nước ngoài vẫn chưa nhiều. Chúng ta chưa có chiến lược hậu thuẫn (hỗ trợ pháp lý, đào tạo nghề, quảng bá ẩm thực...) cho người Việt để đưa ẩm thực Việt ra thế giới.
Tôi mong muốn 10-20 năm tới có một thế hệ doanh nhân Việt, có những cộng đồng Việt làm chủ trong lĩnh vực nông nghiệp, thực phẩm ở nước ngoài.
Khi đưa nông sản Việt ra thế giới, bà đã đối diện với rào cản nào khó vượt nhất: công nghệ, thị trường hay nhận thức? Và bà đã vượt qua ra sao?
Rào cản lớn nhất là thị trường các nước chưa có nhiều niềm tin vào chất lượng và kiểm soát quy trình của Việt nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng luôn có ý thức xây dựng quy trình, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo đạt các tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu.
Để khắc phục tình trạng này không làm tăng quá nhiều chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Chúng ta cần có sự đầu tư của nhà nước, cần một “chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia” cho nông sản Việt. Việc kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm để tránh các hiện tượng “con sâu bỏ rầu nồi canh” và kiểm soát truyền thông, mạng xã hội, vì nông sản tính thời vụ rất cao, chỉ cần một tin đồn thất thiệt có thể gây thiệt hại vô cùng lớn cho một ngành hàng.
Ở thời điểm hiện tại, nếu phải lựa chọn một dự án, sản phẩm hoặc sáng kiến tiêu biểu để giới thiệu với bạn bè quốc tế như một “tấm danh thiếp” của nông nghiệp Việt Nam, bà sẽ chọn điều gì?
“Quốc tế hóa ẩm thực Việt Nam” – đây là dự án mà chúng tôi đã lựa chọn. Mong muốn chuỗi “ Phở Việt” ở tất cả các nước có người Việt, cốt lõi là sự đồng nhất về chất lượng sản phẩm.
Người Việt có rất nhiều sáng tạo trong cải tiến thiết bị quy mô nhỏ tự động hóa mà vẫn giữ được các bí quyết truyền thống trong chế biến ẩm thực. Nếu học cách quản trị hệ thống, xây dựng chuỗi và tinh thần đoàn kết thì chắc chắn người Việt có thể làm chủ các nhà hàng Việt không thua số người Việt nàm nails (nghề làm móng) ở nước ngoài.
Bà đánh giá thế nào về vai trò của chuyển đổi số trong việc đưa nông nghiệp Việt tiến gần hơn đến mô hình sản xuất bền vững?
“Chuyển đổi số - chuyến tàu không thể lỡ” - đây là con đường bắt buộc để nông nghiệp Việt vươn ra thế giới và tránh bị tụt hậu. Nếu không chuyển đổi số thì khó có thể xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Khi Al đã phát triển ngoài sức tưởng tượng của con người, nếu chúng ta không xây dựng cơ sở dữ liệu cho nông nghiệp đặc thù của mỗi vùng miền để ứng dụng công nghệ phù hợp mà lại lạm dụng/ phụ thuộc Al thì rất có thể bị rủi ro bởi những thứ dữ liệu không chuẩn máy được học.
Thương mại xuyên biên giới là con đường ngắn nhất để giảm chi phí các khâu trung gian. Không chuyển đổi số, không truy xuất nguồn gốc xác thực thì khó làm được thương mại điện tử và tạo thị trường bền vững cho sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình làm việc với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, bà thấy điều gì là rào cản lớn nhất khiến nông sản Việt chưa khai thác hết tiềm năng?
Rào cản lớn nhất trong quá trình làm việc với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đó là thiếu nhận thức chung, thiếu tiếng nói chung, cái tôi quá lớn. Kinh nghiệm truyền thống là quý giá, nhưng nếu không cập nhật kiến thức, đi thực tế học hỏi mà cứ sống mãi với “kinh nghiệm” với “quá khứ”... thì khó có thể xây dựng những chuỗi giá trị cao và bền vững.
Bà đánh giá thế nào về đóng góp của dự án/ứng dụng Auto Agri trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp?
AutoAgri là một nền tảng đa phương tiện, giúp người dùng có thể tiếp cận nhanh nhất các thông tin về các lĩnh vực của nông nghiệp: tình hình mùa vụ, thời tiết, giống, sâu bệnh, thị trường ...
Người dùng có thể làm chủ các thông tin, nhật ký điện tử... mọi thứ đều có thể chỉ cần một chiếc điện thoại. Kết nối cộng đồng, giới thiệu sản phẩm, tích hợp hồ sơ, kết nối ngân hàng... rất đơn giản để người dùng ở mọi trình độ đều có thể sử dụng dễ dàng.
Tầm nhìn và định hướng của bà cho 5-10 năm tới đối với ngành nông nghiệp Việt Nam là gì?
Trong 5-10 năm tới, ngành nông nghiệp Việt Nam bên cạnh sự tăng tốc cần có sự đầu tư công nghệ và chất lượng để nâng sức cạnh tranh. Tuân thủ tốt và tốt hơn xu hướng nông nghiệp thuận vụ và hướng hữu cơ tuần hoàn là giá trị cốt lõi của nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp Việt cần kết hợp du lịch trải nghiệm và chế biến ẩm thực tiện dụng để quảng bá sản phẩm cũng như nâng cao giá trị.
Bà muốn gửi gắm thông điệp gì tới thế hệ trẻ, đặc biệt là những bạn trẻ mong muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp?
Nông nghiệp là lĩnh vực cho thế hệ trẻ nhiều cơ hội để thử sức khởi nghiệp. Những người làm nông nghiệp, nhất là nông dân luôn xởi lởi, luôn mở lòng chia sẻ những kinh nghiệm quý báu. Nông nghiệp thuận thiên là thế mạnh của Việt Nam cũng như của các nước vùng nhiệt đới.
Nếu chỉ được gói gọn hành trình sự nghiệp và triết lý sống của mình trong một câu, bà sẽ chọn câu nói nào?
“Hãy làm tốt hơn cái tốt nhất” - tôi luôn tìm tòi, học hỏi để có thể làm tốt hơn cái đã tốt rồi, không bằng lòng việc dừng lại.
Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà!